Sáp ong là một hợp chất hữu cơ phức tạp. Các thành phần chính của sáp ong là este, axit béo và hydrocacbon được tổng hợp bởi axit béo cao hơn và rượu đơn chức, nhưng có sự khác biệt nhất định trong thành phần của nó do sự khác biệt về loài ong, thực vật nguồn bột mật ong và phương pháp tinh chế.
1, Thành phần
(1) Este: Este của axit béo bao gồm monoeste và este hydroxy, với hàm lượng từ 70 phần trăm đến 75 phần trăm . Trong số các monoeste, có 23% melifloxacin palmitat, 2% melifloxacin palmitat, 12% melifloxacin cerate, và 12% meliphylloyl pyrogallate. Trong số các este hydroxy, có 8% đến 9% sáp rượu palmitat, 9% đến 9,5% diester và 4% đến 4,5% este.
(2) Axit béo: hàm lượng axit béo tự do là 10% đến 15%; axit béo bão hòa phần trăm đến 1 phần trăm, trong đó axit sáp. 3% đến 4,49% , axit tar gỗ 1% đến 1,5% , axit meliflower và axit montanic 2% , axit chấy rận lá 1,3% đến 1,5% , axit pyrogallic 1,5% , v.v.
(3) Hydrocacbon: Hàm lượng hydrocacbon là 10 phần trăm đến 16 phần trăm và hydrocacbon bão hòa nổi bật nhất với 15 đến 31 chuỗi nguyên tử cacbon, trong đó có 25 ankan là 0.3 phần trăm, 27 ankan là 0,3% , và 29 ankan là 1% ~ 2% , 31 ankan là 8% đến 9% ; hiđrocacbon không no chủ yếu là 30 ankan chiếm 2,5%.
(4) Các thành phần khác trong sáp ong: Sáp ong chứa este cholesterol axit béo, chất tạo màu (chủ yếu là 1-3 dihydroxide flavonoid), W-myristolactone, rượu béo tự do, v.v. Ngoài ra, sáp ong còn chứa một lượng nhỏ nước và khoáng chất và các nguyên tố carbon, hydro và oxy trong tro sáp ong lần lượt chiếm 80% , 13% và 7%.
2, Tính chất vật lý và hóa học
(1) Màu sắc: Phốt pho sáp do ong tiết ra có màu trắng và hầu hết các tổ ong mới xây cũng có màu trắng. Trong thời kỳ ra hoa của một số loài thực vật, do ảnh hưởng của các sắc tố như carotenoit tan trong dầu trong phấn hoa nên tổ ong được sử dụng. Các mảnh vụn của kén và keo ong do ấu trùng ong để lại làm cho màu dần chuyển từ nhạt sang nâu.
Do đó, sáp ong lấy ra từ các tổ ong khác nhau có màu trắng sữa, vàng tươi, vàng, nâu và nâu.
(2) Trạng thái: Ở nhiệt độ phòng, sáp ong ở thể rắn, có mùi thơm, độ dẻo và độ bôi trơn độc đáo. Nhai sáp ong nguyên chất không dính răng và không có mùi nhờn. Sau khi nhai, sáp ong chuyển sang màu trắng và sáp ong được cắt ra. Trong mặt cắt có nhiều tinh thể dạng hạt mịn. Sáp ong được bảo quản ở nhiệt độ thấp hơn thường có một lớp chất bột trên bề mặt, lớp này được gọi là lớp sáp.
(3) Thông số kỹ thuật: Điểm sôi của sáp ong là khoảng 300 độ, sáp ong ở trạng thái sôi dễ bị phân hủy thành carbon dioxide và axit axetic và các chất khác. Đốt cháy 1000 gam sáp ong có thể tạo ra 10150 kcal năng lượng nhiệt.
(4) Độ hòa tan: Sáp ong không hòa tan trong nước, ít tan trong ethanol lạnh, hòa tan hoàn toàn trong cloroform, carbon tetrachloride, ether, benzen (30 độ), carbon disulfide (30 độ), nhựa thông và các dung môi hữu cơ khác.
